Chủ Nhật, 18 tháng 11, 2012

Theo dòng thời sự


Sau nhiều ý kiến chỉ trích việc hôn môi của Đàm Vĩnh Hưng, bức thư nam ca sĩ gửi thầy sư bên Mỹ vừa bị lộ đã làm rõ nguyên nhân hành động phản cảm này.

Bức thư của sư thầy Thích Minh Tuệ đã gửi cho vài trăm hòm thư điện tử về lời chỉ trích hành động của ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng. Nhà sư cho rằng, tất cả chỉ vì Đàm Vĩnh Hưng khiến cho hai nhà sư phải gánh chịu nặng nề và biệt chúng 3 tháng và hậu quả còn dai dẳng hơn thế nữa.
Trong thư, thầy Tuệ cho rằng, Đàm Vĩnh Hưng đã có hành động quá đáng, bất kính và không thành tâm nhận lỗi. Im lặng và cố gắng nhưng cuối cùng, Đàm Vĩnh Hưng đã viết thư trả lời nhà sư Thích Minh Tuệ. Qua đó, hé lộ nguyên nhân dẫn đến nụ hôn với nhà sư bị lên án suốt thời gian vừa qua.
Tiết lộ lý do Mr Đàm 'khóa môi' nhà sư
Đàm Vĩnh Hưng và 2 nhà sư.
Nguyên văn bức thư của Đàm Vĩnh Hưng:
"Kính gửi đến sư thầy Thích Đồng Trị và sư thầy Thích Minh Tuệ cùng các vị chân tu có tên trong danh sách thầy Thích Đồng Trị gửi thư.
Đàm Vĩnh Hưng đã đọc những gì thầy phân tích (theo suy nghĩ của riêng thầy). Con chỉ muốn thưa chuyện thật ngắn gọn với thầy, nếu đủ bình tâm và suy nghĩ để hỏi xem khán giả có cho phép hay không, con đã không thực hiện điều đó. Xưa nay con không bao giờ phân biệt Thiên Chúa giáo hay Phật giáo. Bản thân con đã giúp rất nhiều những ngôi chùa nghèo tại Việt Nam, có thể nói rằng con làm những điều cho các nhà chùa còn nhiều hơn các nhà thờ. Những ngày Phật Đản hoặc khánh thành chùa mới, hoặc những lễ hội khác, khi các chùa cần con đã luôn có mặt và chưa bao giờ dám đòi hỏi bất cứ một quyền lợi nào.
Nếu thầy biết được sự thật của câu chuyện con vẫn giấu để giữ gìn cho sư thầy áo nâu kia,  chắc ngài sẽ có những suy nghĩ khác. Vì con không muốn nói ra, khi nói ra lời hứa bảo vệ vị sư kia của con sẽ trở thành vô nghĩa. Vì các ngài đã nói như thế, con buộc lòng phải nói lại một lần để mọi người hiểu con hơn.
Tiết lộ lý do Mr Đàm 'khóa môi' nhà sư
Đàm Vĩnh Hưng đã bị phạt 5 triệu đồng vì hành động phản cảm với nhà sư.
Sự thật lúc đó, con định quay sang hôn lên má của vị sư thầy, nhưng chính sư thầy áo nâu là người chủ động đưa môi ra và có ý yêu cầu con phải thực hiện lời hứa ban đầu. Trong đêm đó, sư thầy áo nâu ấy còn nói những câu không thể nào chấp nhận được đối với một người bình thường, đừng nói là người khoác áo nâu sòng. Vị sư đó nói với mọi người là mình có hai nick là 'Kechano' và 'Mông bự' trên mạng xã hội, còn nói đêm nay chắc phải đi khách, và 'tuy là đi tu chứ không ăn chay'".
Đây là những lời nói rất thật và hàng trăm phóng viên cũng như khán giả sẵn sàng làm chứng điều này, có cả băng hình ghi lại toàn bộ sự việc. Thử hỏi, nếu là một người được đào tạo, dạy dỗ từ những gì nghiêm ngặt, quy chuẩn, liệu có buông những lời như thế không ạ. Làm sao thầy hiểu hết việc nhiều người gọi điện chửi rủa, hăm dọa mạng sống của con, dư luận lên tiếng lên án con trong suốt thời gian qua đã gây những chấn động tâm lý với con như thế nào.
Con thiết nghĩ, phàm làm con người khó có thể vẹn toàn và hoàn hảo, con đã nhìn ra cái sai của mình là thiếu bình tĩnh và bản lĩnh để xảy ra cơ sự như thế, mặc dù không cố ý.
Như trong thư đã nêu, con cũng có quyền im lặng, mọi chuyện giữa con với các thầy cũng sẽ dừng lại. Con đã thấy trách nhiệm của mình, lên tiếng, nhận hết lỗi về mình trước dư luận, con biết mình đã sai và cầu mong nhận lại sự rộng lượng sự bao dung, rộng lượng từ các cơ quan chức năng, Phật tử và từ khán giả của mình.
Con cũng hiểu sự nóng lòng trước cảnh đồng môn của mình đang bị xử phạt nên các thầy mới mổ xẻ, phân tích và gửi cho hàng trăm hàng ngàn lá thư điện tử, cố tình cho mọi người thấy con giống như hiện thân của ác quỷ vậy.
Xin thầy hãy rộng lượng và nhìn nhận lại mọi điều sau khi nghe con kể lại toàn bộ sự thật. Con đã không muốn nói ra những điều này vì con không muốn mọi chuyện xấu thêm, dù thế nào, con cũng là người có lỗi, dù là không cố ý khi hành động.
Còn một điều nữa con muốn nói với thầy, dù là Chúa giáo hay Phật giáo, không có một đạo nào dạy con người làm ác, làm sai, làm bậy. Mỗi khi đi ngang qua bất kỳ một ngôi chùa nào, con cũng đều tự cúi đầu chào, nhất là Mẹ Quan Âm Bồ Tát.
Kính chúc thầy gặp nhiều sức khỏe, bình an.
Con - Một tín đồ công giáo, luôn biết kính sợ thần thánh hay Phật pháp, không ngạo mạn, hỗn xược như đã bị hàm oan.
Đàm Vĩnh Hưng".
Theo Tiền Phong


---//---
Trong Đơn xin hoàn tục gửi Thượng tọa Thích Bửu Chánh và tăng chúng thiền viện Phước Sơn (Đồi Lá Giang, xã Phước Thái, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai), Pháp Định viết:
"Con pháp danh Thích Pháp Định, hiện đang tu học tại thiền viện Phước Sơn làm đơn này kính xin sư phụ trụ trì cùng chư tăng thiền viện Phước Sơn cho phép con được hoàn tục vì hoàn cảnh gia đình.
Sáng ngày 17/11 Sư Thích Pháp Định đã trả tam y tỳ kheo và bình bát, trở lại làm một người cư sĩ tại gia của Phật giáo
Kính bạch sư phụ trụ trì và chư tăng!
Con xuất gia với HT Thích Huệ Thành tại chùa Gia Hưng (huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre) đến nay đã được gần 10 năm.
Sau đó vì có duyên với sư phụ nên sư phụ đã mở rộng lòng từ bi thương xót cho con được về thiền viện Phước Sơn tu học cùng chư tăng của thiền viện.
Trong những năm tháng qua, mặc dù đã được sư phụ ân cần dạy bảo lời hay lẽ phải của đạo lý nhà Phật, nhưng con còn trẻ người non dạ, suy nghĩ cạn cợt nên đã có những cử chỉ, lời nói, suy nghĩ chưa chuẩn mực với tư cách của người xuất gia, làm đau lòng sư phụ và tăng chúng thiền viện, làm ảnh hưởng đến giáo hội và quý tăng ni chân tu khác, làm suy giảm tín tâm của phật tử và của những người yêu mến đạo Phật.
Tội lỗi ấy của con quá lớn sư phụ ơi! Nhiều đêm trường con trằn trọc, trăn trở, thầm trách cứ những hành vi lỗi đạo ấy của con.
"Một con sâu làm rầu nầu canh". Con thật có lỗi với sư phụ, với tăng chúng thiền viện, với Giáo hội, với tăng ni, phật tử.
Con cúi xin sư phụ, quý tăng ni, phật tử rộng lòng hoan hỷ tha thứ cho những lỗi lầm ấy của con. Con mong rằng sau này sẽ không có trường hợp đáng tiếc nào như của con xảy ra nữa.
Bạch sư phụ! Nay vì gia đình con quá neo đơn, muốn con trở về phụ giúp gia đình, con kính xin sư phụ và chư tăng thiền viện bố thí cho con được hoàn tục.
Dù cho con không còn là một tu sỹ phật giáo nữa, nhưng con hứa với sư phụ con sẽ là một cư sỹ thuần thành, luôn hộ trì Tam bảo.
Sau này nếu hội đủ duyên lành, kính mong sư phụ và chư tăng thiền viện bố thí cho con được xuất gia, sống đời hạnh phạm nơi cửa Phật.
Một lần nữa con thành kính lạy tạ và tri ân công đức sâu dày của sư phụ và chư tăng thiền viện đã cưu mang, bảo hộ, che chở và cho con tu học trong những tháng năm qua.
Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Thiền viện Phước Sơn, ngày 15-11-2012.
Con: Pháp Định - Phan Văn Triển
Theo Kienthuc.net

----

Theo lời kể của Pháp Định, từ nhỏ thầy chỉ biết có bà ngoại, không biết cha ở đâu, mẹ ở đâu. Tuổi thơ khốn khó, hai bà cháu bìu díu vào nhau mà sống.

Năm 15 tuổi, cậu bé Phan Văn Triển xuất gia tại chùa Gia Hưng (huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre) với pháp danh là Thích Pháp Định. Bổn sư sơ tâm là Hòa thượng Thích Huệ Thành, Chứng minh Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Bến Tre.

Sau đó, Pháp Định xin về Thiền viện Phước Sơn (xã Phước Tân, TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai) tu học cùng tăng chúng cách đây vài năm. Lâu lâu, Pháp Định lại về quê thăm ngoại một lần.

Đi tu ít lâu, Pháp Định tìm lại được mẹ. "Khi ấy mẹ có chồng ở TP.HCM. Năm đó tôi khoảng mười mấy tuổi gì đó, không còn nhớ nữa", Pháp Định cho biết.
Nhà sư Thích Pháp Định đã xin hoàn tục
Nhà sư Thích Pháp Định đã xin hoàn tục

Cuộc sống của người mẹ không lấy gì làm khá giả, vậy là Pháp Định vừa đi tu vừa lo lắng cho mẹ và bà ngoại ở dưới quê. Hàng tháng, Pháp Định còn phát gạo cho mấy sư cô trong chùa, giúp đỡ các sư cô lúc ốm đau, bệnh tật.

"Từ lúc đi tu đến giờ, tôi chưa được gia đình giúp chút nào, toàn giúp bà, giúp mẹ thôi. Sống khổ từ nhỏ nên tôi thương những người có hoàn cảnh khốn khó, bất hạnh, như anh ca sĩ Wanbi Tuấn Anh bị bệnh hiểm nghèo".

Hoàn tục với 50 ngàn đồng trong túi

Sau sự việc bị ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng khóa môi trong đêm nhạc từ thiện và bị ca sĩ này tố những chuyện động trời mà Pháp Định cho rằng "không đúng sự thật", ngày 16/11, Pháp Định đã xin hoàn tục. Nguyện vọng này của Pháp Định được Thượng tọa Thích Bửu Chánh cùng chư tăng Thiền viện Phước Sơn chấp thuận.
Pháp Định kể: "Rời Thiền viện Phước Sơn, trong túi tôi chỉ có 50 ngàn đồng. Chị biết 50 ngàn giữa đất Sài Gòn làm được gì không? Tôi dành 20 ngàn đi xe buýt từ chùa lên thành phố, mua hết 10 ngàn ổ bánh mỳ, 10 ngàn chai nước, còn 10 ngàn thì để ngày mai sống".

Không muốn quay về quê vì sợ mẹ, đặc biệt là bà ngoại biết tin dữ, sốc không chịu nổi, Pháp Định lang thang trên Sài Gòn.

"Ở đời có đức mặc sức mà ăn, tôi được nhiều người thương, thông cảm, hiểu được sự việc giúp đỡ. Hiện tôi đang ở ké nhà một Phật tử nhưng người ta cũng chỉ giúp được một thời gian thôi", Pháp Định cho biết.
Pháp Định trao trả y bát lại cho nhà chùa.
Pháp Định trao trả y bát lại cho nhà chùa.

Khó khăn lớn nhất Pháp Định đang phải đối mặt là sau khi rời chùa, cư sỹ rơi vào cảnh thất nghiệp.

"Trước đây tôi cũng có tham gia các chương trình xã hội, từ thiện bên ngoài nhưng giờ hoàn tục rồi tôi tôi quyết tâm đi tìm nơi nào đó để tự tu tiếp, cố gắng làm từ thiện giúp đỡ mọi người".

Điều Pháp Định vẫn day dứt sau khi hoàn tục đó là mang tội bất trung bất nghĩa bởi chưa đền ơn được sư phụ.

Theo Pháp Định: "Những ngày qua, sư phụ (Thượng tọa Thích Bửu Chánh - PV) đã phải chịu bao nhiêu điều tiếng vì tôi. Thương đệ tử nên thầy chấp nhận xin lỗi mọi người, giống như cha mẹ thương con thì nhận hết lỗi về mình. Tôi hoàn tục cũng vì không muốn người ta đàm tiếu về sư phụ, nói sư phụ không biết dạy dỗ đệ tử.

Giới luật nhà Phật cho phép một người có thể xuất gia và hoàn tục được 7 lần. Người Việt xa quê hương, đất nước mấy chục năm vẫn muốn quay về nguồn cội. Tôi đã gắn bó với chùa và sư phụ bao năm nay, vì thế nhất định tôi sẽ quay về đó nương tựa, tu tập để trở thành một con người tốt".

"Điều duy nhất bây giờ tôi mong muốn là xin dư luận hãy nương tay, tha thứ có những gì đáng tiếc đã xảy ra. Đời người ai cũng có lỗi lầm, nhân vô thập toàn. Đức Phật cũng từng nói có có hai hạng người đáng quý ở đời, một là người không có lỗi lầm và hai là người có lỗi lầm mà biết khắc phục ăn năn. Hãy cho tôi một cơ hội để sửa chữa lỗi lầm", Pháp Định tha thiết nói.
Theo Phunutoday
---//---
Thấy gì qua chuyện này?
1. Đã bước chân vào cửa Phật, có lẽ nên học tập cho đàng hoàng. Triển còn ham vui quá!
2. Bất kỳ ai, cũng nên có nghề nghiệp để có thể sống được. Đừng trông đợi vào sự giúp đỡ. Triển còn chờ vào lòng thương của nhân loại thì khó tồn tại lắm Triển à.
Đó là những tri kiến sai lầm của Triển về đời sống, về đạo lý.
A di đà Phật, nguyện xin tam bảo gia hộ cho anh này được khôn ra và có thể tiếp tục tu tập.

Thứ Tư, 14 tháng 11, 2012

Miền Nam ơi! Nghĩ mà thương

Chiều dở chứng thèm kẹo, lấy cái kẹo dừa chuối, đặc sản Bến Tre mua từ hồi tháng 7/2012 ra ăn. Nhớ hồi mua ngẫu hứng tại quán cơm ven đường. Ông chủ kẹo ngồi xuống bên ghế nói bằng giọng buồn buồn tâm sự:  Khó quá cô, sở kẹo của tụi tui giờ chỉ làm cầm chừng cho anh em sống qua ngày. Cô ăn thử, được mơi mốt ghé lại mua giúp.
Mình nghe cay đắng, nghĩ thầm: Tui đi xa lắc xa lơ rồi chú ơi! Đành mua giúp 2kg, định bụng mang về làm quà. Chừng ra tới SL, kẹo ngon quá, làm mình nổi máu kẹo kéo, để dành ăn từ từ. Thỉnh thoảng thèm lại nếm chút quà quê.
Chiều nay, mở ra lớp vỏ bánh phồng còn giòn tan, ăn mà thương miền Nam hào sảng nên nghèo hoài. Có đâu như Sơn La, nhập hàng trong SG, toàn bán gấp đôi, gấp ba. Hic. Chưa kể thái độ bán hàng kẻ cả đến độ riết rồi cái gì mình cũng muốn tự cung tự cấp, hổng thèm đi mua nữa!

Thứ Bảy, 10 tháng 11, 2012

Hỡi ơi!

Từ chỗ Giáo viên tiếng Anh cần phiên dịch, đến hôm nay phải tuyển 100 GV người  Philipine về dạy tiếng Anh cho người Việt, ( Cũng may là chưa chọn GV Campuchia về dạy tiếng Anh cho người Việt), để rồi tất cả kinh phí học ngoại ngữ với giáo viên (được coi như là bản ngữ vì nói được tiếng Anh lưu loát) đổ hết lên đầu phụ huynh.

http://vn.news.yahoo.com/tuy%E1%BB%83n-gi%C3%A1o-vi%C3%AAn-philippines-d%E1%BA%A1y-ti%E1%BA%BFng-anh-%C3%BD-030900305.html
http://vn.news.yahoo.com/học-ngoại-ngữ-với-giáo-viên-bản-ngữ-021104449

Ai được lợi trong chuyện này, hẳn người có não đều suy ra được. Thời thế đảo điên. Muốn tu cũng không được!


Minh và Sang





 - Đối với hành vi "Không chuyển quyền sở hữu phương tiện theo quy định" (không sang tên đổi chủ): Phạt từ 6-10 triệu đồng với ôtô và 800.000 đến 1,2 triệu đồng với xe máy. Quy định này tăng mức phạt nhiều lần so với quy định cũ (VD: lỗi này đối với xe mô tô thì chỉ bị phạt từ 100.000 đến 200.000 đồng.







Thứ Năm, 8 tháng 11, 2012

Thứ Năm, 1 tháng 11, 2012

Người giàu cũng khóc - Tui cười đau khổ!


SJC trở thành “người gia công”

SGTT.VN - Từ chủ sở hữu, nay SJC chỉ là đơn vị gia công vàng miếng nên doanh nghiệp này sẽ tập trung vào lĩnh vực trang sức kim hoàn.
Ông Lê Hùng Dũng, chủ tịch hội đồng thành viên công ty TNHH Vàng bạc đá quý SJC 
Ông Lê Hùng Dũng, chủ tịch hội đồng thành viên công ty TNHH Vàng bạc đá quý SJC, trao đổi với phóng viên Sài Gòn Tiếp Thị: “Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sẽ sở hữu bốn nội dung. Thứ nhất, quản lý hoàn toàn hạn ngạch nhập khẩu vàng nguyên liệu. Thứ hai, bộ khuôn dập vàng SJC hiện NHNN quản lý. Thứ ba, sản lượng sản xuất và phân phối Nhà nước cũng quyết định: dập cho ai, số lượng bao nhiêu. Cụ thể, khuôn đó đã giao cho NHNN chi nhánh TP.HCM niêm phong cất giữ, khi nào Nhà nước cấp hạn ngạch nhập khẩu nguyên liệu, cấp hạn mức sản xuất thì họ mở tủ lấy khuôn ra giao cho SJC, rồi xuống xưởng giám sát dập đúng số lượng, xong đem khuôn về cất tiếp. SJC trở thành người gia công thôi”.
Ông nghĩ gì khi nhiều người cho rằng việc xoá bỏ các thương hiệu vàng miếng khác, chỉ để lại SJC dễ khiến Nhà nước độc quyền thị trường vàng miếng?
Tôi nói rõ là không có sự độc quyền nào ở đây. Sự độc quyền này nếu có là thị trường đã chọn SJC. Trước khi Nhà nước ra chính sách quản lý chặt thị trường vàng, họ đi khảo sát năng lực sản xuất và thị phần của sáu thương hiệu vàng miếng AAA, ACB, Đông Á, Bảo Tín Minh Châu, SBJ và SJC. Họ kiểm tra hạn ngạch nhập bao nhiêu, sản xuất và bán ra thị trường như thế nào. Lúc đó họ mới thấy có những ông không có thương hiệu, không có nhà máy sản xuất cũng xin hạn ngạch nhập vàng. Đem về họ đưa qua nhờ dập vàng SJC. Thứ hai, có những đơn vị sở hữu thương hiệu vàng miếng riêng, nhưng họ không sản xuất thương hiệu của họ mà cũng đưa sang SJC, bởi họ dập ra thì bán không được.
SJC là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước song lâu nay ông trực tiếp điều phối, nay thay đổi vậy có khó gì cho SJC?
Tôi không bình luận về chuyện này, nhưng rõ ràng trong việc dập vàng này thì họ có lúng túng. Ví dụ vàng miếng móp méo, trước đây đối với chúng tôi là nghiệp vụ bình thường, nhìn là biết do mình sản xuất ra, dân đem tới trừ tiền bao bì gia công xong là đổi liền. Còn giờ giao cho Nhà nước, Nhà nước mua vàng móp méo vô, đến nay lên tới 600 tỉ đồng rồi. Trong khi xả đầu ra, tôi xin vụ Quản lý ngoại hối cho dập để bán ra thu hồi vốn thì không cho. Đặt trường hợp họ nghi ngờ SJC hợp thức hoá cho vàng lậu, tôi có nói với NHNN chi nhánh TP.HCM cử cán bộ giám sát kiểm tra, để giải quyết nhu cầu của người dân. Việc dập lại vàng miếng móp méo như hoạt động ăn cơm uống nước hàng ngày, giờ giao cho vụ lại thành chuyện. Vụ ngoại hối cứ để hàng tồn, kêu thì mới xả ra một tí. Chính những cái ách tắc mà không ai giải quyết thì tích tụ căng thẳng trên thị trường.
Công ty vàng bạc DoJi là cổ đông lớn của hai công ty cổ phần vàng bạc đá quý Đà Nẵng và Hà Nội, họ có hưởng lợi gì trong thương hiệu vàng SJC không?
Khoảng năm 2004 – 2005, SJC cổ phần một số chi nhánh theo chỉ đạo của Chính phủ, phần lớn là công nhân viên của SJC mua vào, riêng hai công ty này DoJi tham gia. SJC Sài Gòn không có thoả thuận để cho các công ty này sản xuất vàng miếng đóng mác SJC. Tuy nhiên còn lấn cấn ở chỗ Doji được quyền sử dụng logo, thương hiệu SJC đóng vào nữ trang của Doji sản xuất. Mà tuổi vàng của nữ trang rất phức tạp, chúng tôi khó thể đặt bộ máy để kiểm tra, nên chúng tôi đã tính đến việc bán hết cổ phần trong hai công ty đó cho Doji, nhưng Doji không mua. Nếu bán, SJC rút hết thì Doji sẽ không gắn thương hiệu SJC vô được nữa.
Hồng Sương (thực hiện)

==//==

Móc túi người giữ vàng

TT - Ngân hàng Nhà nước đã cho phép các thương hiệu vàng khác chuyển đổi sang vàng miếng SJC chỉ tốn phí 50.000 đồng/lượng. Tuy nhiên khi doanh nghiệp mua lại vàng miếng của chính mình, người dân bị “trừ” 3,4 triệu đồng/lượng.
Người dân đổ xô kiểm định chất lượng vàng tại chi nhánh SJC miền Bắc (Q.Ba Đình, Hà Nội) - Ảnh: Nguyễn Khánh
Tồn tại nghịch lý này là do muốn chuyển đổi sang vàng miếng SJC, người dân phải thông qua các công ty vàng hoặc ngân hàng chứ không thể trực tiếp mang đến Công ty SJC để đổi.
Mất đứt 3,4 triệu đồng/lượng
Chị Thanh (Hà Nội) cho biết tích cóp được hai lượng vàng Rồng Thăng Long. Trước đây giá vàng miếng thương hiệu này xấp xỉ vàng miếng SJC, tuy nhiên từ cuối năm ngoái giá mua vàng Rồng Thăng Long cứ trượt dần. “Tôi cố giữ đến khi NHNN cho phép các thương hiệu vàng khác được chuyển đổi thành vàng miếng SJC hi vọng giá mua được cải thiện, ai ngờ...” - chị Thanh nói.
Theo bảng giá niêm yết chiều 29-10, giá mua vàng miếng Rồng Thăng Long niêm yết tại Công ty vàng Bảo Tín Minh Châu ở mức 42,7 triệu đồng/lượng, thấp hơn 3,43 triệu đồng/lượng so với giá mua vàng miếng SJC ở cùng thời điểm và cũng là thương hiệu vàng miếng có giá mua thấp nhất. Đến giao dịch tại cửa hàng chị Thanh đã đặt câu hỏi vì sao trước đây giá bán thương hiệu Rồng Thăng Long ngang ngửa vàng SJC mà nay giá mua quá cách biệt như trên, nhân viên ở đây trả lời rằng sau khi SJC được chọn làm thương hiệu vàng quốc gia, không riêng Rồng Thăng Long mà các thương hiệu vàng khác đều có sự cách biệt nhất định với giá vàng SJC.
Đây cũng là tình trạng chung của nhiều thương hiệu vàng miếng khác như AAA, SBJ... Chị Vân (Q.Phú Nhuận, TP.HCM) cho biết cuối tuần qua chị cầm 1 lượng vàng thương hiệu SBJ đến bán tại Ngân hàng Sacombank. Nhân viên tại đây thông báo giá mua chỉ 45,23 triệu đồng/lượng, thấp hơn gần 1 triệu đồng/lượng so với giá mua vàng SJC cùng thời điểm. “Phí chuyển đổi sang vàng miếng SJC chỉ có 50.000 đồng/lượng, trong khi ngân hàng để chênh lệch gần 1 triệu đồng, gấp 20 lần mức phí chuyển đổi. Biết là bất hợp lý nhưng chúng tôi không còn chọn lựa nào khác là bán lại cho ngân hàng vì các tiệm vàng khác không mua loại vàng nào khác ngoài SJC” - chị Vân bức xúc.
Ai bảo vệ người dân?
Tổng giám đốc một công ty vàng tại quận 1, TP.HCM giải thích sở dĩ sau khi NHNN cho phép chuyển đổi sang vàng miếng SJC mà các thương hiệu vàng khác vẫn “mua rẻ” của người dân vài triệu đồng/lượng là vì trước đây họ đã mua vàng của người dân cất trong kho chờ NHNN cho phép chuyển đổi. Chi phí lãi vay, rủi ro do biến động giá và các chi phí vô hình khác được các đơn vị kinh doanh tính vào chi phí và trừ vào giá mua vàng của người dân.
Ông Nguyễn Thành Long, chủ tịch Hiệp hội Kinh doanh vàng VN, cho rằng các công ty vàng phải có trách nhiệm với thương hiệu vàng của mình. “Đương nhiên trong thời gian chờ đợi NHNN cho phép chuyển đổi sang vàng miếng SJC, người kinh doanh bị thiệt hại vì phải chịu chi phí do lãi suất, rủi ro nhưng chi phí này không nhiều so với mức lợi nhuận mà các doanh nghiệp thu được khi chuyển đổi sang vàng miếng SJC. Ở đây cần đặt vấn đề phạm trù đạo đức của người kinh doanh ở đâu khi chỉ lo thu lợi cho chính mình mà không quan tâm đến quyền lợi của khách hàng” - ông Long nói.
Thực tế hai tháng qua, NHNN đã bốn lần cấp hạn mức chuyển đổi vàng miếng cho các công ty vàng, ngân hàng. Tuy nhiên việc bao nhiêu đơn vị được cấp phép, số lượng từng đơn vị bao nhiêu thì NHNN không công bố. Chính sự không rõ ràng này đang đặt ra nhiều dấu hỏi trong việc gia công vàng.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, một chuyên gia cũng nghi vấn khả năng nhiều đơn vị xin hạn mức chuyển đổi số lượng vàng rất lớn từ NHNN nhưng trong kho không có số lượng vàng tương ứng. Lợi dụng việc giá vàng trong nước cao hơn giá vàng thế giới 3-4 triệu đồng/lượng, nhiều đơn vị đã tranh thủ dập vàng sau đó đem sang Công ty SJC gia công hưởng chênh lệch.
ÁNH HỒNG
Ông Lê Hùng Dũng (chủ tịch HĐQT Công ty SJC):
Họ đã “ăn cắp”
Vì sao các doanh nghiệp vàng và ngân hàng mua lại vàng do chính họ bán ra với giá thấp hơn so với vàng SJC, trong khi phí chuyển đổi ra vàng SJC chỉ có 50.000 đồng/lượng? Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Lê Hùng Dũng - chủ tịch HĐQT Công ty SJC - nói:
- Có thể nói đây là bất cập của chính sách mà cơ quan quản lý chưa lường trước. Một doanh nghiệp không phải là SJC nhưng có quota chuyển đổi sang vàng SJC lại hưởng chênh lệch lớn. Chúng tôi cũng thấy sự bất hợp lý này nhưng cũng chịu vì SJC cũng chỉ là đơn vị gia công. Hơn nữa, SJC cũng không có quyền từ chối gia công vì việc gia công đấy được NHNN cho phép.
* Số lượng vàng thương hiệu khác được các doanh nghiệp đăng ký chuyển đổi lên tới 13 tấn, liệu có tình trạng doanh nghiệp đăng ký nhiều hơn số lượng thực sau đó mua vào để chuyển đổi, hưởng chênh lệch?
- Cái này tôi không biết và cũng không bình luận. Tuy nhiên, tôi nghĩ trách nhiệm của cơ quan quản lý là phải kiểm tra kỹ số lượng, niêm phong số vàng đã đăng ký để ngăn chặn việc khai khống.
* Dư luận lo ngại rằng thay vì mua vàng của dân, doanh nghiệp sử dụng vàng lậu để sản xuất vàng thương hiệu của mình rồi mang đến SJC để chuyển đổi?
- Đây là trách nhiệm của cơ quan quản lý. Bởi trước khi cấp quota chuyển đổi, NHNN đã chốt số lượng vàng của từng doanh nghiệp. Có lẽ NHNN cũng đã niêm phong và kiểm soát máy móc của các doanh nghiệp. Chúng tôi chỉ là đơn vị gia công, không có thẩm quyền và khả năng để nắm được thông tin.
* Các doanh nghiệp cho rằng tốc độ chuyển đổi ra vàng SJC bị chậm, trong khi doanh nghiệp phải chịu chi phí lãi vay khi ôm vàng là lý do có sự chênh lệch này?
- Đó chỉ là cách nói, chứ bản thân những doanh nghiệp này đã bỏ túi khoản chênh lệch khá lớn do mua thấp, bán cao. Còn tốc độ dập ra vàng miếng SJC bị chậm là do chất lượng vàng của nhiều thương hiệu rất kém. Theo kết quả kiểm tra gần 53.000 lượng ban đầu có đến 9,04% không đạt, trong đó cá biệt có doanh nghiệp vàng không đủ tuổi chiếm đến 55,71%. Việc kiểm tra từng miếng (khoảng 1.500-1.800 miếng/ngày) khiến tốc độ dập bị chậm, chưa đến 2.000 lượng/ngày, trong khi công suất của SJC lên đến 80.000 lượng/ngày.
* Như vậy, ngoài việc hưởng chênh lệch, việc ép giá mua vàng thương hiệu của mình còn do chất lượng vàng mà các doanh nghiệp này bán ra không đạt?
- Thực tế là trước khi vàng SJC được chọn làm thương hiệu vàng quốc gia, hầu hết doanh nghiệp khác cũng đều đem vàng đến cho chúng tôi gia công. Nếu vàng họ sản xuất ra chất lượng tốt, cần gì phải đem đến SJC để gia công, trong khi SJC cũng là đối thủ cạnh tranh. Nói tóm lại, tôi cho rằng hoặc là nhân viên sản xuất của các doanh nghiệp pha đồng hoặc bạc để rút bớt vàng khi sản xuất hoặc chính các doanh nghiệp đã “ăn cắp” của người tiêu dùng bằng việc sản xuất những loại vàng kém chất lượng.
* Theo ông, có giải pháp nào để thúc đẩy nhanh tiến độ chuyển đổi số vàng khác đã đăng ký sang vàng SJC?
- Đã có một số doanh nghiệp đề nghị cho tạm xuất tái nhập. Theo đó, các doanh nghiệp sẽ tạm xuất toàn bộ lô hàng của họ theo đúng quy trình để bán cho đơn vị nước ngoài. Sau đó doanh nghiệp mua lại vàng nguyên liệu nước ngoài đủ chuẩn với số lượng tương đương. Nếu áp dụng giải pháp này, chỉ cần một tuần là có thể chuyển đổi xong...
* Hiện giá vàng SJC vẫn cao hơn vàng thế giới từ 2-3 triệu đồng/lượng, vì sao thưa ông?
- Theo số liệu mới nhất, tính đến ngày 17-10, số vàng được SJC dập chuyển đổi được 116.692 lượng, tương đương hơn 4,5 tấn. Tuy nhiên, số vàng này có ra thị trường hay không thì tôi chịu. Còn giá vàng SJC vẫn cao hơn thế giới 2-3 triệu đồng/lượng là có nhiều lý do. Trước đây các ngân hàng đã huy động vàng và chuyển đổi ra tiền để cho vay, hiện nay đến hạn tất toán phải mua vào. Với biến động giá trị trên thị trường, các doanh nghiệp lại mua số lượng lớn đã đẩy giá SJC chênh lệch với giá vàng thế giới.
HẢI ĐĂNG thực hiện

Chú Đại Bi -(Tiếng Phạn)-


Thứ Ba, 30 tháng 10, 2012

Của để dành - Ca sĩ Lan Ngọc


Đến thăm gia đình ca sĩ Lan Ngọc vào ngày cuối tuần, gặp lúc anh chị đang cùng nhau vào bếp. Chị Ngọc cười: "Trong nhà mình, việc gì 2 vợ chồng cũng cùng làm. Có hôm người giúp việc về quê, 2 ông bà già lại cùng nhau lau nhà, nấu cơm đấy".
Chính nhờ sự "cùng nhau" giản dị ấy mà đã gần 40 năm, hạnh phúc vẫn ngập tràn trong ngôi nhà ấm áp.
Tình yêu đến tự lúc nào chẳng rõ...
Không lãng mạn, cũng chẳng phải tiếng sét, tình yêu đến với họ thật tự nhiên. Những năm 1970, Lan Ngọc là ca sĩ có tiếng, lại trẻ trung, xinh đẹp nên bao người theo đuổi. Nhưng chưa một ai làm trái tim cô ca sĩ kiêu kỳ kia rung động.
Anh Tâm là bạn của anh trai Lan Ngọc, anh thường xuyên đến nhà chị, lại là bác sĩ thế nên đại gia đình chị mười mấy thành viên, mỗi khi có ai đau bệnh, một tay anh săn sóc. Chị Ngọc bảo: "Lâu dần, bố mẹ và mấy đứa em mình đều xem anh ấy như người ruột thịt".
Nhớ lại những ngày ấy, anh Tâm cười mãi: "Hồi ấy, lòng mình "tình trong như đã" rồi nhưng chẳng dám ngỏ lời, còn Ngọc thì vô tư phát sợ".
Vô tư đến mấy, rồi chị cũng dần cảm nhận được sự chăm sóc đặc biệt của anh dành cho mình. Khi thì một liều thuốc cảm sau đêm đi hát gặp mưa, lúc cuốn sách, hay một đĩa hát chị tìm kiếm từ lâu... Thế rồi, cũng đến một ngày chị bắt đầu cảm giác như thiếu thiếu điều gì khi không thấy bóng dáng quen thuộc, giọng nói và tiếng cười ấm áp của anh.
Họ chẳng còn nhớ lời yêu đầu dịu ngọt như thế nào. Tình yêu đến êm đềm như những bản tình ca chị hát, như vòng xe nhịp nhàng anh đưa đón chị mỗi đêm. Năm 1972, họ thành đôi trong niềm vui của 2 gia đình.
Bù đắp và hy sinh cho nhau để giữ gìn mái ấm
Những năm đầu sau giải phóng, có thời gian chị không đi hát, anh lại chưa có việc làm ổn định. Nhiều năm sau ngày cưới nhà vẫn thiếu tiếng khóc trẻ thơ. Chị bảo lúc ấy buồn đến không chịu nổi. Cũng may anh luôn an ủi, động viên chị hy vọng...
Rồi hạnh phúc đơm hoa. Năm 1982, chị sinh bé Bảo Trang, anh cũng mở phòng mạch. Kinh tế gia đình ngày một vững vàng. Chung sống gần nửa đời người, ít khi nào anh chị to tiếng, nặng lời với nhau. Nói về hạnh phúc đang có, chị bảo: "Ông bà mình nói nào có sai: Chồng giận thì vợ bớt lời... giữ được hòa khí trong gia đình là do vợ chồng mình tôn trọng, bù đắp và hy sinh cho nhau".
Chẳng hạn, chị tự nhận khả năng nội trợ "dưới trung bình" còn anh lại nấu ăn rất khéo. Chị nóng tính, anh trầm tính nhự nhàng. Chị lý trí bao nhiêu, anh đa cảm bấy nhiêu.
Yêu nhau không cần phải nói thành lời
Nói về chị, anh không giấu vẻ tự hào: "Ngọc là người sống mẫu mực. Đi hát xong là về với chồng con, ít khi nào tham gia những cuộc vui bên ngoài. Cô ấy là ca sĩ, lại xinh đẹp nhưng mình chẳng có cớ gì để ghen tuông cả".
Yêu vợ, hiểu và tôn trọng vợ anh cố gắng vun vén để trở thành trụ cột kinh tế gia đình, cho chị yên tâm thỏa lòng với niềm đam mê của mình.
Bảo Trang, con gái anh chị, đang du học ở Mỹ. Trang xinh đẹp, hát hay như mẹ, học giỏi và theo nghề y của bố.
Ngoài niềm vui con trưởng thành, anh chị tìm thấy hạnh phúc trong công việc, trong sự sẻ chia và chăm sóc lẫn nhau. Bao nhiêu năm, anh vẫn sớm hôm đưa đón chị đi hát, vẫn mày mò lên mạng sưu tầm những bài hát và đĩa nhạc cho chị. Và trong mắt anh, "ca sĩ vợ" là ngôi sao duy nhất.
Còn chị, giọng hát vẫn nồng nàn, ấm áp và khỏe khoắn như xưa. Hỏi bí quyết, chị nhìn anh âu yếm: "Đó là nhờ luôn được ông bác sĩ tư gia này chăm sóc hoàn toàn miễn phí".

===//===

Ca sĩ phòng trà: Lan Ngọc - Hát suốt 40 năm và hơn nữa...

Ca sĩ Lan Ngọc - Ảnh: Nhân vật cung cấp

Đối với lớp ca sĩ hiện tại trong nước thì Lan Ngọc xứng đáng là một người chị gương mẫu “sống chết với nghề”. Giọng hát vượt thời gian của người đàn bà tuổi Mậu Tý này luôn cháy lửa đam mê.

Chị sinh ra trong một gia đình công chức có ông bố thích sưu tầm, chép lại những bài hát bất hủ như Biệt ly (Dzoãn Mẫn), Giọt mưa thu (Đặng Thế Phong), Buồn tàn thu (Văn Cao), Ngày về (Hoàng Giác)... Người mẹ dù không hề biết một nốt nhạc nào, chỉ nghe qua radio và hát theo nhưng chừng ấy cũng đủ thẩm thấu vào tâm hồn cô con gái rượu. Ngay từ thuở nhỏ, Lan Ngọc đã rất thích ca hát và là cây văn nghệ nòng cốt của nhà trường, rồi là ca sĩ chính của Hội Khiếm thị chuyên đi hát gây quỹ từ thiện. Ông bố thấy con gái mê hát quá bèn “ký gửi” cho cặp nghệ sĩ Mạnh Phát - Minh Diệu kèm cặp. Chính nhạc sĩ Mạnh Phát đã đưa Lan Ngọc vào Đài phát thanh Pháp Á ghi âm bài hát đầu tiên vào năm 1967, bước khởi nghiệp chính thức để trở thành ca sĩ, đó là ca khúc Con thuyền không bến (Đặng Thế Phong)...
Kể từ đó, Lan Ngọc là ca sĩ “nhí” nhất so với lứa đàn chị Mai Hương, Mai Hân, Quỳnh Giao, Hà Thanh, Kim Tước, Châu Hà... Cô luôn có mặt trong các chương trình ca nhạc Tiếng Thời Gian (của Mạnh Phát), Tiếng Tơ Đồng (của Văn Phụng - Hoàng Trọng), Tiếng Thùy Dương (của Châu Kỳ)... Lan Ngọc còn được nhạc sĩ Huỳnh Anh (tác giả Mưa rừng, Lạnh trọn đêm mưa, Kiếp cầm ca, Thuở đó có em... - NV) hướng dẫn nên ngày càng thăng tiến trong lĩnh vực ca nhạc. Trong rất nhiều dòng nhạc ở miền Nam dạo đó, Lan Ngọc chọn thể hiện những ca khúc tiền chiến của Đoàn Chuẩn - Từ Linh, Văn Cao, Hoàng Giác, Phạm Duy..., đôi khi chị cũng hát những ca khúc điệu Boston của Y Vân. Dạo ấy, Lan Ngọc thường hát ở các phòng trà Vân Cảnh, Queen Bee, Maxim, Đêm Màu Hồng... Nổi tiếng rồi nhưng mỗi đêm không bố thì mẹ vẫn thay nhau đưa đón, cho đến một ngày họ “nhượng quyền” đưa đón con gái mình cho một thanh niên có được sự tín nhiệm, đó là chàng bác sĩ - bạn của anh trai Lan Ngọc.
Kỷ niệm không bao giờ quên trong đời ca hát của Lan Ngọc là dạo cô mới ở tuổi đôi mươi, hát ở phòng trà La Sirène. Trong số khán giả có một cặp vợ chồng lớn hơn cô khoảng chục tuổi, dắt theo đứa con gái chừng lên 5. Họ hầu như song hành với cô mỗi đêm, thường ngồi ở hàng ghế đầu và luôn yêu cầu Lan Ngọc hát Biệt ly của Dzoãn Mẫn. Trong thâm tâm, Lan Ngọc rất biết ơn và coi họ như những người bạn tri âm. Bẵng đi một thời gian không thấy họ lui tới. Sau đó, chỉ còn người đàn ông đeo chiếc băng tang dắt con gái tới. Vẫn ngồi vào chiếc bàn đó, vẫn gọi một ly nước cho chiếc ghế trống bên cạnh và vẫn yêu cầu Lan Ngọc hát Biệt ly... Đến giờ, sau bao nhiêu thăng trầm của cuộc sống, mỗi lần cất tiếng hát “Biệt ly nhớ nhung từ đây, chiếc lá rơi theo heo may, người về có hay. Biệt ly sóng trên dòng sông, ôi còi tàu như xé đôi lòng...”, Lan Ngọc lại nghẹn ngào nhớ đến người xưa, cảnh cũ...
Có một điều là với Lan Ngọc, ca hát là cái nghiệp, là máu thịt nên không thể dứt ra được. Hiện nay, chị vẫn hát thường xuyên ở nhà hàng ca nhạc Ân Nam, Q.3, TP.HCM, cuối tuần thì chị hát ở Quán Trịnh trên đường Âu Cơ, Q.11.  Chị còn là hội viên của Hội quán Hội Ngộ (khu du lịch Bình Quới I) nên mỗi dịp có chương trình tưởng niệm cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn chị luôn là ca sĩ đứng đầu danh sách biểu diễn. Đặc biệt, Lan Ngọc không hề từ khước một lời mời hát từ thiện nào. Ngoài danh mục nhạc tiền chiến, Lan Ngọc còn thể hiện rất thành công những ca khúc của Trịnh Công Sơn. Và hẳn nhiều người còn nhớ chị từng gây ấn tượng với 2 bản nhạc của nhạc sĩ quá cố Giáp Văn Thạch: Quê hương (thơ Đỗ Trung Quân), Cánh hoa dầu...
Mặc dù cuộc sống hiện tại của chị rất sung túc, là chủ nhà hàng ca nhạc Ân Nam (góc Trương Định - Võ Thị Sáu, TP.HCM), có một căn nhà mặt tiền ở Q.5, và đã hơn 40 năm theo nghề, nhưng chị vẫn đi hát, bởi vì “trời còn cho mình hát được thì cứ hát”. Chị tâm sự: “Điều hạnh phúc nhất của đời tôi là tuy đã đứng tuổi nhưng vẫn còn nhiều khán giả ủng hộ. Trong tôi vẫn cháy bỏng niềm đam mê ca hát và vẫn hát được những ca khúc mà mình từng thể hiện thành công thuở thanh xuân. Tôi nghĩ đó cũng là điều mơ ước của hầu hết những ai theo nghề ca sĩ, và tôi mãn nguyện về điều này”.
Điều chị muốn gửi gắm đến thế hệ ca sĩ đàn em là phải có niềm đam mê, yêu nghề và nhất là phải tôn trọng khán giả. “Bây giờ tôi thấy nhiều em khi biểu diễn có thái độ rất hời hợt, có người còn hát nhép. Thời chúng tôi, ngoài giọng hát thiên phú còn phải luôn trau dồi, học hỏi, hát làm sao để truyền tải được ý đồ của tác giả đến người nghe... Ca sĩ bây giờ được sự hỗ trợ của máy móc hiện đại nhiều quá nên phần nào có sự ỷ lại, không nỗ lực như lớp chúng tôi ngày xưa...”.
Hà Đình Nguyên

Thứ Năm, 25 tháng 10, 2012

Tìm hiểu về Tứ vô lượng Tâm (Từ, Bi, Hỷ, Xả)



Ðức Phật khuyên dạy chúng sinh hãy chăm tu tập “Tứ Vô Lượng Tâm”, tức là “bốn món tâm rộng lớn không lường được”, đó là các tâm “Từ, Bi, Hỷ, Xả”. Phật dạy hãy mở rộng bốn tâm này, không hạn chế, cho tất cả các loài hữu tình ở khắp bốn phương. Đây là những đặc tính giúp con người trở nên tốt đẹp, hoàn thiện, là lối sống của bậc thánh. Nếu mỗi người tự cố gắng thực hành “tứ vô lượng tâm”, không phân biệt tôn giáo, chủng tộc v.v… thì mỗi người sẽ trở thành một công dân lý tưởng trong một thế giới hòa bình, an lạc. 

Đạo Phật thường được gọi là đạo từ bi, đạo cứu khổ. Ở đâu có Đạo Phật, ở đó có tình thương. Phương châm tu tập của Phật Giáo là từ, bi, hỷ, xả. Người Phật tử lấy từ, bi, hỷ, xả làm nền tảng cho sự phát triển thánh hạnh; tâm từ bi được coi là tâm Phật. Trong quá trình truyền giáo, Đạo Phật chưa bao giờ gây chiến tranh hay đổ máu, thông điệp tình thương cứu khổ, giúp đời đã được Đức Phật tuyên thuyết ngay từ thời kỳ sơ khai thành lập giáo đoàn. Bốn món tâm rộng lớn không lường được nói trên nếu của Phật và các vị Bồ tát thời được xưng là “Đại từ, Đại bi, Đại hỷ, Đại xả”.

Tâm “Từ” là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân, cho người khác.
Tâm “Bi” là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang có mặt.
Tâm “Hỷ” là niềm vui, lòng thanh thản do từ bi đem tới.
Tâm “Xả” là thư thái nhẹ nhàng, tự do, không kỳ thị.

Đức Phật dạy người Phật tử phải tu tập tứ vô lượng tâm. vậy chúng ta thử tìm hiểu kỹ xem vì sao Đức Phật lại khuyên chúng ta nên làm việc này?...

TÂM TỪ 

“Từ” là lòng lành giúp ích cho người, lòng thương yêu, thường đem vui cho tất cả chúng sinh. “Tâm từ” là cái gì làm cho lòng êm dịu, là lòng mong ước cho tất cả chúng sinh đều được an lành vui vẻ. Tâm từ là lòng mong mỏi chân thành của người bạn hiền muốn cho bằng hữu mình được an vui hạnh phúc. Ngược lại với tâm từ là lòng “sân hận”.

Tâm từ không phải là sự yêu thương thiên về xác thịt, về tình dục, cũng không phải là lòng trìu mến vị kỷ, lòng luyến ái đối với người nào. Tâm từ không phân biệt kẻ thân người sơ, không dành riêng cho tình đồng chí, không dành riêng cho tình đồng chủng, cũng không dành riêng cho tình đồng hương hay đồng đạo. Hơn nữa tâm từ không phải chỉ nên có giữa người và người mà phải bao trùm tất cả chúng sinh, bởi vì, loài cầm thú cũng cần đến sự giúp đỡ và tình thương.

Nói tóm lại, tâm từ bao la, rộng rãi, trải ra đồng đều đối với chính mình cũng như đối với những người thân cận, dù không quen biết, dù có ác cảm với mình. Người thực hiện từ tâm đến mức độ cùng tột sẽ thấy mình đồng hóa với tất cả chúng sinh, không còn sự khác biệt giữa mình và người. Cái gọi là “ta” không còn nữa. Mọi sự chia rẽ đều biến mất như đám sương mù tan trong nắng sáng. Vạn vật trở thành một, đồng thể, đồng nhất.

Khi tâm từ xuất hiện thì lòng sân hận, ác ý, thù oán không thể phát sinh. Đức Phật dạy chỉ có tâm từ mới dập tắt được lòng sân. Không những dập tắt được lòng sân, tâm từ còn diệt được các mầm tư tưởng bất thiện. Nhìn thái độ của loài người đối với hận thù, Ðức Phật đưa ra nhận xét là tình thương sẽ chinh phục được lòng sân hận. Ðể giảng hòa một cuộc tranh chấp giữa hai tiểu bang đang giành nhau nước dưới con sông làm ranh giới, Ðức Phật dạy:

(Pháp Cú 197)
Ở ngay giữa đám nhân sinh
Dù người hờn oán, nếu mình thảnh thơi
Sống không thù hận cùng người
Thật là sung sướng, cuộc đời thơm hương. 


Nhưng có lòng từ ái đối với người khác không có nghĩa là phải quên mình. Lúc Ðức Phật sắp nhập Niết Bàn, các đệ tử từ bốn phương xa gần tấp nập về đảnh lễ Ngài. Chỉ có một thầy Tỳ kheo, thay vì làm như các vị khác, lại rút về tịnh thất chuyên cần hành thiền. Khi được hỏi về thái độ ấy, thầy trả lời vì trong ba tháng nữa Đức Phật sẽ nhập diệt nên thầy nghĩ rằng để tỏ lòng quý trọng Ngài, việc làm tốt đẹp nhất là thành tựu đạo quả A La Hán lúc Ngài còn tại tiền. Ðức Phật ngợi khen thầy và nhấn mạnh là “Không nên vì mục tiêu của người khác mà lãng quên mục tiêu, sự an lành của chính mình. Hãy nhận định rõ ràng mục tiêu của mình và lập tâm thành đạt mục tiêu ấy”:

(Pháp Cú 166)
Chớ vì lợi ích cho người
Mà quên lợi ích cho nơi chính mình
Mục tiêu giải thoát tử sinh
Ai lo lợi ích cho mình chớ quên
Quyết tâm đạt được cho bền. 


Không nên hiểu lầm là Đức Phật dạy ta nên ích kỷ, chớ có phục vụ kẻ khác một cách vị tha, bất cầu lợi. Trái lại Đức Phật chỉ nhấn mạnh rằng trong khi phục vụ lợi ích cho người cũng đừng quên mục tiêu tự giải thoát cho chính mình. Mình có giác ngộ và giải thoát rồi sau đó đi giúp kẻ khác mới hữu hiệu được hơn.

TÂM BI 

“Bi” là lòng thương xót cứu khổ, thương dứt trừ đau khổ cho hết thảy chúng sinh. Bi là động lực làm cho tâm rung động trước sự đau khổ của kẻ khác. Đặc tính của “tâm bi” là ý muốn giúp người khác thoát khỏi cảnh khổ.

Tâm bi là vị thuốc có thể tiêu trừ bệnh hung bạo. Lòng của người có tâm bi thật là mềm dịu. Lắm khi người có tâm bi không ngần ngại hy sinh đến cả tính mạng. Chính do nơi tâm bi mà con người có thể hoàn toàn vị tha trong khi phục vụ kẻ khác, giúp mà không bao giờ mong đền ơn, đáp nghĩa.

Đối tượng của tâm bi là những kẻ nghèo đói, túng thiếu, đau ốm, cô đơn dốt nát, hư hèn và cả những người có đời sống buông lung, phóng đãng tội lỗi. Tâm bi phải bao trùm tất cả chúng sinh đau khổ, rất bao la và bình đẳng. Như Đức Phật xưa kia đã từng tế độ cho một người phụ nữ lạc bước giang hồ và cho cả một tên sát nhân tàn ác, toan hại Ngài. Về sau, cả hai đều theo Ngài và hoàn toàn đổi tính. Bên trong mỗi người, dù xấu xa thế nào cũng ngầm có những tính tốt. Đôi khi chỉ có lời nói phải, đúng lúc, cũng có thể làm đổi hẳn con người. Như vua A Dục ngày xưa, tàn bạo đến nỗi, người đời bấy giờ gọi là “A Dục, con người tội lỗi”. Thế mà, khi nghe được lời nói phải của một thầy Sa di trẻ tuổi, ông đổi hẳn lại tính tình, mạnh tiến trên con đường tự giác và trở thành “A Dục, con người hiền đức”. Ta nên nhận định rằng, tâm bi của Phật giáo không phải là giọt nước mắt nhỏ suông gọi là thương xót. Kẻ thù gián tiếp của tâm bi là “âu sầu, phiền não”.

Tâm từ và tâm bi thường đi chung với nhau. Trước hết phải dùng tâm bi để trừ giùm đau khổ cho chúng sinh, rồi kế đó dung tâm từ mà cho họ niềm vui. Như thế, cái vui mới được hoàn toàn. Vậy “bi” là nhân mà “từ” là quả. Người sống có tâm từ bi, có tình thương thì mọi hận thù trên thế gian này sẽ tiêu tan.

Một người có hai bà vợ. Một bà có con và một bà không. Bà không con đem lòng ganh tị, trộn thuốc độc vào thức ăn của bà kia, hại bà kia hai lần hư thai. Ðến lần thứ ba, thuốc độc làm cho bà kia đang có mang cùng chết với đứa bé. Bà kia khởi tâm cương quyết báo oán và thực hành ý định. Bà không con bị trả thù, cũng quyết tâm trả thù lại. Thù oán trả qua trả lại, hết bà này đến bà kia, qua lại trong hai kiếp sống liên tục. Tuy nhiên, đến kiếp tái sinh thứ ba, cơ hội đưa đẩy hai bà cùng đến gặp Ðức Phật và sau đó nhờ Ngài khuyên giải mà hận thù được chấm dứt:

(Pháp Cú 5)
Khắp nơi trong cõi dương gian
Hận thù đâu thể xua tan hận thù
Chỉ tình thương với tâm từ
Làm tiêu oán hận, giải trừ hờn căm
Đó là định luật ngàn năm.


Cô hầu nhỏ của một ông chồng nọ bất chợt đem lòng ganh tị bà vợ lớn. Một lần cô đem đổ bơ nóng lên đầu bà nhưng bà không giận mà còn giải lòng từ bi đến cô, nguyện rằng mình không sân hận, khiến cho bơ nguội lạnh, bà không bị phỏng. Về sau, cô hầu nhỏ ăn năn hối hận và xin sám hối. Bà bảo cô phải lên xin sám hối với Ðức Phật trước bà mới bằng lòng quên lỗi. Cô làm theo lời bà và được Ðức Phật khuyên rằng “Hãy lấy tình thương mà chế ngự tâm sân, lấy chân thật khắc phục giả dối”:

(Pháp Cú 223)
Lấy từ bi, lấy ôn hòa
Thắng cơn nóng giận bùng ra thét gầm
Lấy hiền lành, lấy thiện tâm
Thắng lòng hung ác bất nhân khó lường
Lấy tâm bố thí cúng dường
Thắng hàng keo kiệt, thắng phường tham lam
Lấy chân thật để đập tan
Những trò hư ngụy, dối gian ở đời.


TÂM HỶ

“Hỷ” là lòng vui, tự mình vui và mừng giùm cho người được điều thiện. Hay muốn nói cho đủ là tùy hỷ: vui theo, cùng vui với người khác. Phản nghĩa của hỷ là “ưu phiền”. Hỷ không phải là trạng thái thỏa thích suông, cũng không phải là cảm tình riêng đối với một người nào. Hỷ là lòng cùng vui thích với người khác khi họ có hạnh phúc hay họ được thành công, nhất là khi sự thành công ấy tiến về nẻo thiện, hướng đến mục đích giải thoát.

Lòng “ganh tị” là kẻ thù trực tiếp của hỷ. Nhiều người lấy làm bực tức khi thấy người khác thành công hay vui khi thấy người khác thất bại. Chính tâm hỷ làm tiêu tan lòng ganh tị đó.

Người có tâm hỷ sẽ trực tiếp hưởng nhiều lợi ích do tâm ấy đem lại cho mình hơn cả người khác. Nếu so sánh với tâm từ và tâm bi, tâm hỷ lại càng khó thực hiện. Muốn có tâm hỷ, phải có ý chí mạnh mẽ và hết sức cố gắng. Để tạo sự an vui, hạnh phúc trong đời sống cá nhân cũng như tập thể và vươn mình lên sống đời trong sạch, cao thượng, người Phật tử nên thực hành tâm hỷ.

Một Sa di, con của người gác cửa, nói xấu về tâm bố thí của tất cả các thiện tín đến chùa, từ đại thí chủ như ông Cấp Cô Độc đến vua Ba Tư Nặc, ngoại trừ những người có họ hàng với chú. Đề cập đến bà con mình thời chú nói: “Ô! Nhà của bà con tôi cung cấp đầy đủ cho các Sa môn tứ phương!”. Vài vị Sư khác muốn tìm hiểu, điều tra và khám phá ra sự thật. Khi các vị này bạch lại vớí Đức Phật về tác phong thấp hèn của chú Sa di, Đức Phật dạy “Người nào đem lòng khen chê, bất mãn và đố kỵ về những phẩm vật bố thí thì tâm người ấy chưa được an tịnh. Người bỏ được tính đố kỵ, ganh ghét và không so đo hơn thua thì tâm lúc nào cũng an tịnh”:

(Pháp Cú 249)
Do lòng tin, bởi niềm vui
Người người bố thí, nơi nơi cúng dường
Kẻ mà tâm xấu buông lung
Thấy ai được hưởng, trong lòng ghét ganh
Ngày đêm sẽ mãi quẩn quanh
Không hề an tịnh tâm mình được lâu.


(Pháp Cú 250)
Chỉ riêng người hiểu pháp mầu
Nên lòng ganh ghét trước sau diệt trừ
Ngày đêm hương đạo thơm đưa
Cõi lòng an tịnh, tâm tư thanh nhàn.


TÂM XẢ

“Xả” là lòng buông xả ra mọi vật của mình cho tất cả chúng sinh không phân biệt kẻ oán người thân. Xả là bố thí, bỏ đi, không chấp, không ghi giữ trong lòng. Xả là trông thấy đúng đắn, nhận định chân chính, suy luận vô tư, tức là không ghét bỏ cũng không luyến ái; không ưa thích cũng không bất mãn. Phản nghĩa của “tâm xả” là “cố chấp”.

Người cao thượng luôn giữ tâm bình thản trước sự khinh rẻ, phỉ báng, nguyền rủa. Giữa cuộc thăng trầm của thế gian đó, Đức Phật dạy ta nên luôn bình thản, hành tâm xả, vững chắc như tảng đá sừng sững giữa trời, vững như voi, như mãnh hổ. Ví như gió thổi ngang màn lưới mà không bị vướng trong lưới, tuy sống giữa chợ người mà ta không luyến ái những lạc thú hão huyền và vô thường của cuộc đời. Như hoa sen từ bùn nhơ nước đục vươn lên, chúng ta cũng vượt lên bao nhiêu quyến rũ của thế gian để sống trong sạch, tinh khiết, luôn luôn bình tĩnh và an vui.

Kẻ thù trực tiếp của xả là “luyến ái” và kẻ thù gián tiếp của tâm xả là sự “lãnh đạm”. Tâm xả lánh xa lòng tham ái và trạng thái bất mãn. Thái độ vô tư, thản nhiên, an tịnh là đặc tính quan trọng của tâm xả. Người có tâm xả không thích thú trong vui sướng cũng không bực tức trong phiền não. Người có tâm xả đối xử đồng đều giữa kẻ tội lỗi và bậc thánh nhân. Đức Phật luôn khen ngợi, khuyến khích hàng đệ tử thực hành tâm xả.

Xả có bốn thứ. Nếu đem cho người ta đồ vật, của cải thời gọi là “tài xả”. Nếu đem giáo pháp, giáo lý cho người thời gọi là “pháp xả”. Nếu đem đức không sợ hãi cho người thời gọi là “vô uý xả”. Còn tự mình xả bỏ tất cả các mối phiền não thời gọi là “phiền não xả”.

Một Tỳ kheo có thói xấu hay moi móc lỗi lầm của người khác để chê bai. Đức Phật dạy “Nếu có ai nói rõ lỗi lầm của người khác và chỉ dạy cho họ cách sửa chữa lại thì đó chẳng phải là một hành động xấu ác đáng chê trách. Trái lại nếu có kẻ nào luôn luôn chỉ trích chỗ sai lầm của người khác với ý định hiểm độc để nói xấu thời những người như thế không bao giờ đạt được giác ngộ mà chỉ có sự ô nhiễm tăng trưởng trong họ mà thôi”:

(Pháp Cú 253)
Nếu ta thấy được lỗi người
Tâm ta nóng giận tức thời dễ sinh
Tăng thêm phiền não thật nhanh,
Xa lìa an tịnh, quẩn quanh muộn sầu,
Lỗi người chẳng để tâm lâu
Còn chi sầu muộn, còn đâu não phiền.


Vài thầy Sa di không biết nên theo phá khuấy một vị A La Hán khả kính vì thân hình ngài nhỏ bé thấp lùn. Khi được biết vị thánh tăng tính tình hiền hòa, chẳng hề tức giận, vẻ mặt luôn bình thản, không chút xao động, Ðức Phật dạy rằng chư vị A La Hán giữ mình luôn luôn bình thản trước những lời tán dương hay khiển trách:

(Pháp Cú 81)
Gió nào lay núi đá cao
Và người trí lớn khác nào núi kia
Tiếng đời trần tục khen chê
Tán dương, phỉ báng, dễ gì động tâm.


Theo lời mời của một vị Bà La Môn, Ðức Phật và các môn đệ Ngài đến an cư kiết hạ tại làng của ông ta. Nhưng Đức Phật và các Tỳ kheo lắm lúc bị bỏ lửng, không được chăm sóc đến, vì vị thí chủ này lãng quên, hơn nữa dân làng địa phương lúc đó đang bị nạn đói kém trầm trọng. Đức Phật và các Tỳ kheo trong thời gian đó phải dùng lúa cho ngựa ăn được cúng dường bởi các người buôn ngựa, nhưng không có ai vì đó mà buồn ý, vẫn tinh tấn tu tập. Ðến khi trở về tịnh xá Kỳ Viên các ngài được cung cấp thực phẩm chu đáo nhưng cũng không vì đó mà tỏ ra thỏa thích quá độ. Ðức Phật lưu ý rằng người thiện trí vượt lên trên mọi xúc động thường tình, không bao giờ bồng bột, cũng không bao giờ để tinh thần suy sụp, luôn bình tĩnh trước mọi việc xảy ra:

(Pháp Cú 83)
Người lành thường mãi lìa xa
Mọi điều dục lạc bỏ qua chẳng bàn,
Người hiền trí gặp vui buồn
Dù đầy hạnh phúc, hay tràn khổ đau
Không hề dao động trước sau
Tinh thần luôn vững, há nào mừng lo.


Một bà tín nữ có ý muốn thỉnh năm vị Tỳ kheo lão thành về nhà trai tăng. Nhưng tịnh xá lại cử đi năm vị Sa di trẻ tuổi đến nhà bà thọ thực. Bà thí chủ chỉ muốn thỉnh những vị Tỳ kheo nên bà không vui, tỏ vẻ không tôn kính và không dâng cúng vật thực đúng thời khiến các vị Sa di bị đói khát. Về sau bà mới nhận ra phẩm hạnh của các vị Sa di, mặc dầu không được tiếp đãi nồng hậu, vẫn không hề tỏ ra bất mãn. Khi nghe thuật lại câu chuyện, Ðức Phật dạy:

(Pháp Cú 406)
Tỏ ra thân thiết chân tình
Giữa người thù nghịch quanh mình gần xa,
Tỏ ra thiện chí ôn hòa
Với người tính khí thật là hung hăng,
Không còn luyến ái vương mang
Bên người cố chấp buộc ràng vây quanh,
Bà La Môn thật xứng danh.


Một ông vua lấy làm thất vọng và âu sầu vì đã bị bại trận ba lần. Ông không thắng nổi kẻ địch là người cháu gọi mình bằng cậu. Người cháu đó là vua A Xà Thế. Ông vua bại trận bỏ cả ăn uống, cứ nằm dài mãi trên giường. Ðức Phật luận về hậu quả không hay của cả người thắng lẫn kẻ bại, dạy rằng muốn an vui, chớ ham tranh thắng bại. “Kẻ chiến thắng gây thêm thù hận. Còn người thất trận phải chịu khổ đau ảo não”. Sống an hòa là thái độ tốt nhất:

(Pháp Cú 201)
Khi mà thắng lợi vẻ vang
Sinh ra thù oán ngập tràn. Nguy thay!
Khi mà thất bại chua cay
Sinh ra đau khổ chất đầy tâm can!
Chi bằng thắng bại chẳng màng
Cuộc đời tịnh lạc, bình an vô cùng.


Hỷ và xả là hai hạnh lành, có tương quan mật thiết, làm nhân làm quả cho nhau. Xả làm nhân cho hỷ, nghĩa là muốn vui theo với người, muốn làm cho người vui, thì trước tiên mình phải đừng chấp, phải xả bỏ những điều ngang trái, những điều thiệt thòi sỉ nhục mà người khác đã làm cho ta.

Trong các truyện về “Tiền thân Đức Phật” ta thấy Ngài từng xả bỏ thân mạng mà cứu giúp chúng sinh. Khi được làm Bồ Tát trên cung trời Đâu Suất, Ngài xả bỏ các sự vui sướng nơi thiên cung mà giáng sinh cứu thế. Trước kia khi còn là một hoàng tử sắp lên ngôi vua, Ngài xả bỏ tất cả đền đài cung điện, châu báu ngọc ngà, vợ đẹp con khôn, quyền cao chức trọng để mà một thân một mình ra đi tu hành khắc khổ.

Người tu hành phải tập xả dần, xả tất cả. Con tằm sở dĩ thành bướm bay lượn đó đây, vì nó đã rời bỏ cái kén, dù đó là một cái kén bằng tơ vàng óng ánh, ấm áp, đẹp đẽ mịn màng vô cùng. Nhưng xả mà còn buồn rầu tiếc nuối cho cái mà mình đã bỏ đi thì xả như thế không có ích gì. Xả phải đi đôi với hỷ. Phải xả với vẻ mặt hân hoan, vui mừng như người tù khi tháo gỡ xiềng xích. 

Thứ Ba, 23 tháng 10, 2012

Xao động

Sóng lao xao gợn mặt hồ yên ả
Ta ngồi nhìn người tất tả đi qua
Kẻ lạ, người xa
Lòng chợt nhói một bóng hình quen lạ.

Lại mỉm cười thói thường tật xấu
Lối phong lưu quen tính vẫy vùng
Ai đang cùng chăn gối đắp chung?
Ai nâng niu ta từng đêm ngon giấc?

Lắc đầu, vói tay xua bóng tối
Chẳng qua là chút men say
Lặng nhìn từng ngón tay
Còn đây chiếc Nhẫn của ngày yêu em.




Thứ Sáu, 19 tháng 10, 2012

Vụ án gay cấn, có một không hai trong lịch sử!

Ở đời, xin không cho thì trộm, trộm bị bắt quả tang thì nâng tầm lên cướp nhưng chuyện "kẻ cướp" với chủ nhà dưới đây thì có một không hai.
Giữa trưa, "trộm" thò tay "vặt quả", chủ nhà "e hèm", trộm rụt tay lại, giấu mặt. Chủ nhà hỏi:
- Làm gì đấy? Định ăn trộm hở?
- Dạ, thì trộm!
- Sao phải trộm?
- Dạ tại xin thì không cho nên phải trộm?
-Vậy sao không trộm tiếp?
- Dạ, tại bắt quả tang, còn chút sĩ diện nên thôi, không dám trộm nữa! Lại phải rào cây lại.
- Người ta bắt quả tang thôi, ai bảo rào cây?
- Dạ, vậy là để đó. Nhưng mà giờ xin không cho, trộm thì bị bắt quả tang, nhưng mà thèm, giờ cướp luôn được không?
- Bác nói bác nhớ nha!
Hậu quả là "chủ nhà" đi làm trễ mất 20 phút. Đứa "xin- trộm- cướp" nằm cười ngó "chủ nhà" thay đồ. Chừng "chủ nhà" đi làm, đứa "xin - trộm -cướp" soạn mắt kính, dây sạc và dắt xe cho chủ nhà đi làm!


Thứ Năm, 18 tháng 10, 2012

Chùm truyện ngắn như ...váy!

1. Tình lập trình
Cháu gái nhà thằng Mùi vừa đen, vừa mập, vừa lùn và sắc đẹp chắc ngang ngửa với Thị Nở, đang chừng 16 cái xuân xanh. Vậy mà bữa đi ngang, thấy có thằng trai đang tán tỉnh nó. Lắc đầu thở dài một mình, chỉ tại thằng Mùi mới mua thêm căn nhà 1,4 tỷ, mặt tiền.
(To be continue...)

Thứ Tư, 17 tháng 10, 2012

Bến cũ đò xưa - ST: Phan Ni Tấn - CS: Phi Nhung


Trôi trên dòng sông đời, ôi chiếc bóng tôi đơn côi
Vùng tay tôi để con đò khác đưa
Đưa sáo qua sông rộng theo người về xuôi.

Thương cây cầu tre làng, thương cây vá trôi theo tôi
Lạc vô dâu bể chân mòn gót lê
Xa xứ ta biệt xa người chợ quê.

Đưa sáo qua sông rộng
Trăng nó cũng phai màu
Tiếng mái chèo còn in trong tôi
Trời xui chi đám mưa ngàn cánh rơi mau.

Chim báo bay xa rồi, trăng cũng bỏ tôi ngồi
Dưới bên đời sầm sập mưa rơi
Lòng như ai mới đong sầu vào đầy vơi.

Anh xin làm con đò đưa chim sáo em qua sông
Đò trôi êm ả qua miền ấu thơ
Câu hát ru khe khẽ theo mộng vào mơ.

Anh xin làm đôi bờ nâng niu bước chân em qua
Bờ bên kia lở tay người cách chia
Thương đất bên đây bồi những lời nỉ non.


Thời gian trôi lướt qua xác xơ miếng trăng tà
Bến cũ cây già ..Tôi về nghe mưa khóc hoài con sáo bay xa.

Chiều nay trên bến xưa hắt hiu bóng con đò
Gác mũi lên bờ khóc ngồi khóc đứng tiếc hoài con sáo sổ lồng

Con sáo bay xa...

Con gái 2















Hoàng hôn màu tím - Đò dọc - Cô lái đò bến Hạ









Thứ Tư, 3 tháng 10, 2012

Của để dành - Tướng mạo dị thường của các ông vua Việt


Tướng mạo dị thường của các ông vua Việt

Lý Thái Tông tên húy Phật Mã, sinh năm Canh Tý (1000) ở chùa Duyên Ninh thuộc cố đô Hoa Lư. Ông là con trai trưởng của Vua Lý Thái Tổ và bà Lê Thị Phất Ngân, con gái Vua Lê Đại Hành (Lê Hoàn) và Dương Vân Nga.
Tượng Lý Thái Tông tại đền Lý Bát Đế.
Tương truyền, ngay từ khi lọt lòng, Lý Phật Mã đã có những dấu hiệu lạ lùng. Lúc bé, chơi đùa với bọn trẻ trong cung, ông thường bắt chúng dàn hàng tả hữu trước sau để làm quân hầu hộ vệ cho mình. Ông cho một vị đạo sĩ cái áo. Đạo sĩ treo cái áo trong quán, nửa đêm thấy rồng vàng hiện ra, khiến người ta duy tâm đây là lời "sấm truyền" cho một đế vương.
Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) rất chú ý tới Phật Mã và có ý nuôi dạy ông kế vị. Năm Nhâm Tý (1012), lúc mới 13 tuổi, Lý Phật Mã đã được lập làm Đông cung Thái tử, rồi được phong làm Khai Thiện Vương, đồng thời nhiều lần được cử làm tướng cầm quân đi dẹp loạn và lập được công lớn. Vì thế, triều thần cũng như thần dân lúc bấy giờ rất tôn kính Phật Mã. Năm 1028, vua cha mất, Lý Phật Mã lên ngôi.
Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhận xét về Lý Thái Tông: “Vua là người trầm mặc, cơ trí, biết trước mọi việc, giống như Hán Quang Vũ đánh đâu được đấy, công tích sánh với Đường Thái Tông". Ông là vị vua giỏi thời nhà Lý. Hơn 30 năm chinh chiến và trị quốc, ông đã củng cố nền cai trị của nhà Lý, chống lại những nguy cơ chia cắt, bạo loạn, xâm lấn, thu phục lòng dân, khiến cho nước Đại Cồ Việt trở nên vững mạnh.
Trần Nhân Tông: Có màu da như vàng ròng
Trần Nhân Tông tên thật là Trần Khâm, sinh ngày 11/11 năm Mậu Ngọ (1258), là con trưởng của Vua Trần Thánh Tông và Nguyên Thánh Hoàng thái hậu. Khi mới sinh toàn thân màu da như vàng ròng - sáng chói. Vua cha đặt tên là Phật Kim. Sách Thánh Đăng ngữ lục chép: "Đến khi vua ra đời, màu da như vàng ròng. Thánh Tông đặt tên là Kim Phật...”.
Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi: "Được tinh anh của Thánh nhân, đạo mạo thuần túy, nhan sắc như vàng ròng, thể chất hoàn toàn, thần khí tươi sáng... Vai bên tả có một nốt ruồi đen, các nhà tướng số cho rằng: ngày sau sẽ gánh vác việc lớn".
Ảnh thờ Vua Trần Nhân Tông.
Trần Khâm được vua cha Trần Thánh Tông nhường ngôi vào ngày 22/10 năm Mậu Dần (1278). Ông ở ngôi 14 năm, nhường ngôi 5 năm, xuất gia 8 năm, thọ 51 tuổi, qua đời ở am Ngọa Vân núi Yên Tử, đưa về táng ở Đức lăng (nay thuộc tỉnh Thái Bình). Các sử gia thời Hậu Lê đã viết về Trần Nhân Tông: "Vua nhân từ hòa nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp trùng hưng sáng ngời thuở trước, thực là bậc vua hiền của nhà Trần. Song để tâm nơi kinh Phật, tuy nói là để siêu thoát, nhưng đó không phải là đạo trung dung của thánh nhân".
Lê Thái Tổ: Miệng rộng, mũi cao và bả vai có 7 nốt ruồi
Về lý lịch xuất thân của Lê Thái Tổ (Lê Lợi), sách Đại Việt thông sử chép: "Vua sinh giờ Tí (tức từ khoảng 23h đến 1h sáng) ngày mùng 6 tháng 8 năm Ất Sửu (1385), niên hiệu Xương Phù thứ 9 nhà Trần, tại làng Chủ Sơn, huyện Lôi Dương. Nguyên trước, xứ Du Sơn, thôn Như Áng Hậu thuộc làng này (Chủ Sơn), có một cây quế, dưới cây quế này có con hùm xám thường xuất hiện, nhưng nó hiền lành, vẫn thường thân cận với người mà chưa từng hại ai.

Từ khi Vua ra đời thì không thấy con hùm ấy đâu nữa. Người ta cho là một sự lạ. Ngày Vua ra đời thì trong nhà có hào quang đô chiếu sáng rực và mùi thơm ngào ngạt khắp làng. Khi lớn lên thì thông minh dũng lược, độ lượng hơn người, vẻ người tươi đẹp hùng vĩ, mắt sáng, miệng rộng, sống mũi cao, xương mi mắt gồ lên, bả vai bên trái có 7 nốt ruồi, bước đi như rồng như hổ, tiếng nói vang vang như tiếng chuông. Các bậc thức giả biết ngay là một người phi thường".
Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế ở Đông Kinh, mở đầu triều Lê sơ, triều đại lâu dài nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam.
Lê Lợi sinh ra trong một gia đình "đời đời làm quân trưởng một phương". Năm ông 21 tuổi cũng là năm nhà Minh đem 80 vạn quân sang xâm lược nước Việt. Cuộc kháng chiến chống Minh của vương triều Hồ thất bại, nước Đại Việt rơi vào ách thống trị tàn bạo của giặc Minh. Trước cảnh đất nước bị kẻ thù giày xéo, tàn phá, Lê Lợi đã nung nấu một quyết tâm đánh đuổi chúng ra khỏi bờ cõi.
Đầu năm 1416, tại núi rừng Lam Sơn trên đất Thanh Hóa, Lê Lợi cùng với 18 người bạn thân thiết, đồng tâm cứu nước đã làm lễ thề đánh giặc giữ yên quê hương. Đó là hội Thề Lũng Nhai đã đi vào sử sách. Rồi sau một thời gian chuẩn bị chín muồi, đầu năm 1418, Lê Lợi xưng là Bình Định Vương, truyền hịch đi khắp nơi, kêu gọi nhân dân đứng lên đánh giặc cứu nước. Lê Lợi là linh hồn, là lãnh tụ tối cao của cuộc khởi nghĩa ấy.
Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế ở Đông Kinh, mở đầu triều Lê sơ, triều đại lâu dài nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: "Mặc dù ở ngôi ngắn ngủi được có 6 năm nhưng những việc làm của ông vua này có ý nghĩa đặt nền móng vững chắc cho cả một triều đại và nên độc lập phồn vinh của quốc gia Đại Việt. Việc làm đầu tiên của Lê Thái Tổ là bàn định luật lệnh. Và nhờ cố gắng đó, hai năm sau (1430), Lê Thái Tổ đă cho ban hành những điều luật đầu tiên của triều đại mình".
Quang Trung: Mắt lập lòe như ánh điện
Nguyễn Huệ (1753 - 1792), còn được biết đến là Vua Quang Trung hay Bắc Bình Vương, là vị hoàng đế thứ hai của nhà Tây Sơn (ở ngôi từ 1788 tới 1792). Ông là một trong những lãnh đạo chính trị tài giỏi với nhiều cải cách xây dựng đất nước, quân sự xuất sắc trong lịch sử Việt Nam với những trận đánh nội chiến và chống ngoại xâm chưa thất bại lần nào.
Quang Trung - Nguyễn Huệ cũng được xem là người anh hùng áo vải của dân tộc Việt Nam.
So với các hoàng đế khác trong lịch sử Việt Nam, có lẽ Quang Trung - Nguyễn Huệ được các sử thần lưu lại những miêu tả chi tiết hơn về vóc dáng, thậm chí miêu tả cả đến làn da, mái tóc và đặc biệt là đôi mắt: "Quang Trung là người cao lớn, tóc quăn, da sần, tiếng nói sang sảng như chuông. Kỳ lạ nhất là cặp mắt sáng như chớp, có thể nhìn rõ mọi vật trong đêm tối, nó khiến nhiều người khi thấy đều run sợ, hãi hùng…“không một người nào dám nhìn thẳng vào mắt ông” (Hoàng Lê nhất thống chí). “Đôi mắt lập lòe như ánh điện” (Đại Nam chính biên liệt truyện), “con mắt nhỏ nhưng cái tròng rất lạ, ban đêm ngồi không có đèn, ánh sáng từ mắt soi sáng cả chiếu” (Tây Sơn thuật lược)…
Sách Những khám phá về Hoàng đế Quang Trung cũng trích dẫn tướng mạo của Hoàng đế Quang Trung theo mô tả của một quan viết sử dưới thời Nguyễn: “Huệ tóc quăn, mặt đầy mụn, có con mắt nhỏ, nhưng cái tròng rất lạ, ban đêm ngồi không có đèn, ánh sáng từ mắt soi sáng cả chiếu, lúc lâm trận thì thế thắng uy nghi, anh hùng lẫm liệt, cho nên mới bình định được phương Nam, dẹp phương Bắc, tiến đến đâu thì không ai hơn được... Óc thông minh đó sẽ làm nên sự nghiệp lớn, tiếng nói sang sảng như chuông sẽ là lệnh truyền hiệu nghiệm đầy sức thuyết phục. Với đôi mắt như ánh điện, thay được đèn soi sáng cả chiếu vào lúc ban đêm, có thể xuyên thấu mọi tâm can sâu thẳm của mỗi con người, của đối phương nên đã làm người người đều kinh sợ. Cái nhãn quang đó cùng bộ óc thông minh của ông đã làm nên sự nghiệp phi thường như lịch sử đã ghi lại".
Ngoài ra, trong một phác họa chân dung vua Quang Trung in trên một tờ tiền giấy, hậu thế có thể thấy đôi mắt của vua là một đôi mắt đẹp đặc trưng kiểu người Việt Nam, nghĩa là đôi mắt to, hai mí lớn, nhãn cầu hơi lồi và ánh nhìn ngay thẳng, chính trực. Có lẽ do quá ấn tượng về nhân cách, tài trí vô song của vị vua áo vải này mà các sử gia đã phần nào “thần thánh hóa” đôi mắt của vua, nhằm cho đời sau cảm nhận được uy lực lạ lùng của đôi mắt ấy. Việc miêu tả chi tiết đôi mắt, làn da cũng như mái tóc của vua Quang Trung càng cho thấy sự gần gũi của vị vua có xuất thân dân dã này.
Theo Đất Việt